Phương pháp sàng lọc hiện tại

Ung thư cổ tử cung phát triển từ các tổn thương nội mô tiến triển chậm. Nếu những thay đổi sớm trong các tế bào cổ tử cung được phát hiện thông qua các chương trình sàng lọc, thì ung thư cổ tử cung hoàn toàn có thể ngăn ngừa được.

Các quốc gia có chương trình sàng lọc hiệu quả đã làm giảm đáng kể gánh nặng về căn bệnh ung thư cổ tử cung, trong một số trường hợp sự hiệu quả có khả năng lên tới 80% trong vòng bốn thập kỷ qua. Tuy nhiên, nếu phát hiện ở giai đoạn muộn sẽ dẫn đến tỷ lệ tử vong cao.

Các chương trình sàng lọc liên quan đến việc kiểm tra dân số không có bệnh trong cộng động. Mục tiêu chính của sàng lọc ung thư cổ tử cung là phát hiện các tổn thương tiền ung thư và ngăn ngừa tử vong do ung thư cổ tử cung gây ra, bằng cách phát hiện sớm để điều trị hiệu quả. Có một số phương pháp được sử dụng để sàng lọc tổn thương tiền ung thư cổ tử cung như sau.

Xét nghiệm tế bào cổ tử cung (PAP)

Xét nghiệm Pap được sử dụng thường có độ đặc hiệu tốt nhưng độ nhạy tương đối kém. Xét nghiệm này được thực hiện bằng cách thu thập các tế bào từ cổ tử cung để phân tích thông qua việc dùng thìa phết hoặc dùng chổi quét, để kiểm tra bất kỳ sự bất thường nào trên cổ tử cung.

Xét nghiệm Pap đã thành công trong việc giảm tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung ở các nước công nghiệp hóa. Tuy nhiên, xét nghiệm Pap lại không phát hiện tất cả các tổn thương tiền ung thư, nhưng lại tốn rất nhiều công sức, đòi hỏi tính chuyên môn cao, phức tạp và mất nhiều thời gian. Phương pháp này lại không thật sự hiệu quả đối với những nơi có nguồn lực y tế thấp hoặc thiếu cơ sở hạ tầng, phòng xét nghiệm tiêu chuẩn và thiếu nhân viên được đào tạo chuyên sâu để đọc kết quả xét nghiệm.

Kiểm tra bằng trực quan (VIA)

Phương pháp kiểm tra bằng trực quan thường được sử dụng ở những vùng có nguồn lực kinh tế thấp vì chúng rẻ và cung cấp kết quả ngay lập tức. Tuy nhiên, chúng tương đối không chính xác và có độ nhạy thấp.

Xét nghiệm tế bào học dựa trên chất lỏng (LBC) 

Phương pháp xét nghiệm tế bào học dựa trên chất lỏng (ví dụ: ThinPrep Test) là một biến thể của xét nghiệm Pap thông thường. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng xét nghiệm tế bào học dựa trên chất lỏng không cho thấy bất kỳ lợi thế nào so với xét nghiệm Pap thông thường xét về độ nhạy và độ đặc hiệu cùng một nghiên cứu.

Xét nghiệm HPV DNA

Xét nghiệm HPV DNA là một phương pháp sàng lọc gần đây hơn. Các nghiên cứu cho thấy xét nghiệm HPV có hiệu quả hơn vì chính xác hơn và có thể phát hiện bất thường của tế bào sớm hơn so với xét nghiệm Pap truyền thống. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiễm trùng dai dẳng các loại HPV nguy cơ cao gây ung thư, với sự phát triển tổn thương tiền ung thư cổ tử cung, và ung thư cổ tử cung. Do đó, sự phát triển của ung thư cổ tử cung liên quan trực tiếp đến việc nhiễm trùng dai dẳng các loại HPV nguy cơ cao gây ung thư.

Việc xét nghiệm HPV DNA có thể hữu ích trong việc nhận biết các thay đổi tế bào cổ tử cung ở mức thấp, ngoài ra còn giúp theo dõi những biến đổi tế bào không xác định (ASCUS), không ngoại trừ các tổn thương mức cao (HSIL), thêm bằng chứng cho việc theo dõi các trường hợp soi cổ tử cung xác định mức độ tổn thương CIN 2-3 và phân tần mô học không xác định trong xét nghiệm Pap.

Mặc dù xét nghiệm HPV ADN đã bắt đầu được chấp thuận đưa vào sàng lọc ở các nước phát triển, nhưng nó là một quá trình khá tốn kém chi phí nên không phù hợp để sàng lọc cộng đồng ở các nước đang phát triển. Hơn nữa, giống như xét nghiệm Pap thông thường và xét nghiệm tế bào học dựa trên chất lỏng, xét nghiệm HPV cũng phải cần trang bị một cơ sở hạ tầng cho phòng thí nghiệm mà việc này hiện đang là vấn đề còn thiếu hụt ở các nước đang phát triển.

Tiêm phòng Vắc -xin

Hơn 41% các quốc gia trên thế giới có Vắc-xin ngừa HPV trong Chương trình Tiêm chủng Quốc gia của họ. Tuy nhiên, tính khả dụng và mức độ bao phủ bị giới hạn ở nhiều quốc gia đang phát triển. Tiêm chủng được xem là ít tốn kém hơn so với việc chẩn đoán và điều trị, các vắc-xin hiện có sẵn chỉ ngăn ngừa được một số loại  HPV, chiếm 70% trường hợp gây ung thư cổ tử cung.

Mặc dù vắc-xin có hiệu quả trong việc phòng ngừa nhiễm HPV dai dẳng, nhưng điều quan trọng là phụ nữ cần phải tiếp tục tham gia tầm soát ung thư cổ tử cung vì:

  • Vắc-xin chỉ có hiệu quả đối với những phụ nữ không có quan hệ tình dục. 
  • Phác đồ ở nhiều quốc gia khyến cáo không tiêm phòng cho phụ nữ trên 13 tuổi.
  • Thời gian hiệu quả của vắc-xin chưa được biết rõ. 
  • Sự gia tăng về tỷ lệ ngăn ngừa các loại HPV gây ung thư là tương đối thấp và không thể dự đoán được.