Thống kê sàng lọc

Các chương trình tầm soát ung thư cổ tử cung tại Úc đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư cổ tử cung gây ra.

Tại Úc và các quốc gia

Việc giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư cổ tử cung gây ra thông qua chương trình chăm sóc sức khỏe toàn cầu ở Úc vào năm 1975, có thể là kết quả của việc đưa xét nghiệm Pap tiếp cận sớm hơn vào công tác dự phòng, kiểm soát ung thư cổ tử cung.

Úc đã đưa xét nghiệm Pap vào chương trình dự phòng, kiểm soát cổ tử cung cấp quốc gia từ năm 1991, và được triển khai ở cấp liên bang, tiểu bang. Quá trình này tập trung vào việc cung cấp xét nghiệm Pap’s Smear miễn phí 06 tháng một lần cho cộng đồng phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 70 tuổi. Kể từ khi đưa chương trình vào triển khai thực tế, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung ở Úc đã giảm đi hơn một nửa.

Mặc dù việc tầm soát đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung, nhưng vẫn cần phải cải thiện thêm, bởi vì vẫn còn sót những trường hợp có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung ở những nhóm người đã tham gia chương trình sàng lọc. 

Ở Anh, tỷ lệ ung thư cổ tử cung xâm lấn dự đoán là 1,70% trong trường hợp không sàng lọc và 0,77% với nhóm đã tham gia sàng lọc trước năm 2003.

Một mô hình toán học phân tích về việc nhiễm HPV ở cổ tử cung, tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN) và ung thư cổ tử cung xâm lấn ở Anh đã dự đoán về việc sẽ giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư cổ tử cung đến 0,46% nếu độ nhạy của xét nghiệm sàng lọc tăng từ mức trung bình hiện tại là 56% lên 90%. Điều này cho thấy rằng, việc gia tăng độ nhạy của các xét nghiệm sàng lọc có khả năng làm giảm thêm gánh nặng về căn bệnh ung thư cổ tử cung.

Tại Việt Nam

Việt Nam đã có hệ thống sàng lọc ung thư cổ tử cung nhưng còn nhiều hạn chế do địa hình phức tạp và hầu hết là chương trình bị động, dựa trên chẩn đoán triệu chứng; mặt khác phác đồ sàng lọc chưa được thống nhất là rào cản lớn nhất trong việc chuẩn hóa các dịch vụ sàng lọc.

Hoạt động dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung được triển khai thực hiện với quy mô nhỏ lẻ tại các cơ sở y tế tuyến trung ương và tuyến tỉnh từ những năm 1970-1980 bằng xét nghiệm tế bào cổ tử cung. Cuối những năm 1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung do Dự án phòng chống ung thư cổ tử cung Việt - Mỹ triển khai, cũng dựa vào xét nghiệm tế bào cổ tử cung. 

Sàng lọc và điều trị ung thư cổ tử cung cũng là vấn đề được đưa vào Chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu tăng “tỉ lệ cơ sở y tế cung cấp chẩn đoán sớm” lên 50%. Chiến lược kiểm soát ung thư Quốc gia 2008 - 2010 cũng có mục tiêu tăng tỉ lệ chẩn đoán ung thư ở giai đoạn sớm từ 20% - 30% (tăng lên 50% trong Chương trình Kiểm soát Ung thư Quốc gia giai đoạn 2010 - 2020). Tuy nhiên chưa có kế hoạch triển khai chi tiết và thiếu nhân lực cũng như tài chính để thực hiện các chiến lược này. Hệ thống các phòng xét nghiệm tế bào cổ tử cung chỉ sẵn có ở tuyến tỉnh và tuyến trung ương, ở tuyến huyện là không đáng kể. Đội ngũ nhân lực được đào tạo còn thiếu thốn và công tác đảm bảo chất lượng tại các đơn vị xét nghiệm này chưa được chú trọng, kết quả là sàng lọc ung thư cổ tử cung chưa được triển khai trên diện rộng.

Trong giai đoạn 2010 -2015, nhiều đối tác quốc tế và tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam như UNFPA, PATH, GIZ, Marie Stopes International… đã trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ cho một số tỉnh thành triển khai các chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung và xử trí các trường hợp bất thường được phát hiện. Các chương trình này đã đạt được hiệu quả nhất định và đã rút ra được một số bài học hữu ích trong quá trình triển khai.

Một trong những khó khăn chính để triển khai rộng là sự chồng chéo trong hệ thống điều trị ung thư ở Việt Nam. Ung thư cổ tử cung được điều trị bởi bệnh viện ung bướu, được chuyển lên từ các khoa ung thư của bệnh viện tỉnh, nhưng do liên quan đến đường sinh sản nên bệnh cũng được điều trị (và phẫu thuật) tại các bệnh viện phụ sản, TTCSSKSS, khoa sản các bệnh viện, bệnh viện sản nhi. Bên cạnh hai loại hình này, y tế tư nhân ngày càng phát triển và thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân hơn. Mặt khác việc chưa thống nhất phác đồ xử trí ung thư, bao gồm điều trị và chăm sóc giảm nhẹ tại các tuyến và các cơ sở y tế là rào cản lớn nhất trong công tác đảm bảo chất lượng và triển khai đồng bộ công tác chăm sóc và điều trị bệnh nhân UTCTC.  

Như vậy, ở Việt Nam cả 3 cấp độ dự phòng UTCTC đều phải đối mặt với sự thiếu hụt về nhân lực được đào tạo bài bản và có trình độ được chuẩn hóa, đồng thời sự biến động nhân lực và các hạn chế, thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên ngành làm cho tỷ lệ cán bộ nhân viên tiếp tục thực hành cung cấp dịch vụ sau đào tạo giảm xuống đáng kể. 

Nguồn trích dẫn: Kế Hoạch Hành Động Quốc Gia Dự Phòng Và Kiểm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung Giai Đoạn 2016 – 2025 do Bộ Y tế biên soạn và công bố.