Tổng quan về ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn thế giới. Đây là nguyên nhân tử vong đứng thứ tư do ung thư gây ra ở phụ nữ. Tỷ lệ gây tử vong lớn nhất nằm trong nhóm người không tham gia các chương trình dự phòng, sàng lọc ung thư cổ tử cung.

Mỗi năm có hơn 530.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung và hơn 270.000 người chết do căn bệnh này. Ung thư cổ tử cung là căn bệnh ung thư phổ biến thứ ba ở phụ nữ trên toàn thế giới và 90% các trường hợp được tìm thấy ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình.

Nếu những thay đổi bất thường trong nội mô tế bào cổ tử cung được phát hiện sớm thông qua các chương trình sàng lọc thì căn bệnh ung thư cổ tử cung hoàn toàn có thể chữa trị được. Tuy nhiên, nếu phát hiện ở giai đoạn muộn thì tỷ lệ tử vong rất cao.

Ung thư cổ tử cung phát triển chậm và có liên quan chặt chẽ với nhiễm vi rút HPV nguy cơ cao, vi rút HPV được tìm thấy trong 99% trường hợp ung thư cổ tử cung. Các tế bào cổ tử cung tiền ung thư sẽ không có bất kỳ triệu chứng rõ ràng nào, do đó việc phát hiện bệnh có khả năng bị thiếu sót hoặc khi phát hiện thường rơi vào giai đoạn quá muộn để điều trị, đặc biệt là các nước hạn chế hoặc thiếu nguồn lực y tế tiếp cận.

Sự tiến triển của việc nhiễm vi rút HPV dai dẵng đến khi hình thành ung thư thường chậm, trung bình mất hơn 10 năm. Mặc dù ung thư xâm lấn thường được phát hiện ở phụ nữ trên 45 tuổi, nhưng những thay đổi tiền ung thư đã được hình thành từ rất sớm.

Thay đổi theo tỷ lệ với độ tuổi

Trong một nghiên cứu quốc tế đã thống kê về tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ trước khi tham gia các chương trình sàng lọc ung thư cổ tử cung, cho thấy độ tuổi mắc bệnh đầu tiên rơi vào khoảng 25 tuổi ở hầu hết trên cộng đồng dân số.

Ở các nước Châu Âu thường thì độ tuổi trung bình khi phát hiện bệnh là cao nhất (46 tuổi), độ tuổi này thường sớm hơn và có xu hướng trẻ hóa.

Tuy nhiên, hình thái của đường cong tỷ lệ theo độ tuổi cụ thể cho thấy sự phát triển của ung thư cổ tử cung ở các dân tộc, vùng miền là khác nhau. Bởi vì ung thư cổ tử cung đa số ảnh hưởng đến phụ nữ tương đối trẻ, vào thời kỳ trưởng thành, và là nguyên nhân chính gây ra tử vong ở các nước đang phát triển. Ung thư cổ tử cung là căn bệnh gây tử vong lớn nhất về bệnh ung thư ở khu vực Nam Trung Á.

Tỷ lệ tử vong

Ung thư cổ tử cung là bệnh phổ biến nhất, và là nguyên nhân gây tử vong cao ở những nước khó tiếp cận với nguồn lực y tế, so với các nước phát triển thì tỉ lệ này thấp hơn, chẳng hạn như New Zealand và Australia là nước có nguồn lực y tế phát triển. Khoảng 90% trong số 270.000 ca tử vong do ung thư cổ tử cung gây ra trên toàn cầu có thể được giảm thiểu thông qua việc phòng ngừa, phát hiện sớm, và có các chương trình tầm soát hiệu quả. 

Chẳng hạn như ở Trung Quốc và Ấn Độ, ung thư cổ tử cung là căn bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở phụ nữ. Ở Ấn Độ, mỗi năm có 123.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc ung thư cổ tử cung và 67.500 người chết do căn bệnh này. Còn ở Trung Quốc, mỗi năm có 100.700 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh, và 37.400 phụ nữ tử vong vì ung thư cổ tử cung.

Chi phí kinh tế

Các chi phí kinh tế liên quan đến căn bệnh ung thư cổ tử cung trong đó có cả chi phí y tế và chi phí liên quan đến việc mất năng suất lao động do chết sớm. Chi phí y tế trực tiếp liên quan đến ung thư cổ tử cung ở Mỹ hàng năm đã được ước tính khoảng 300-400 triệu USD. Trong một nghiên cứu của Mỹ gần đây được thiết kế để xác định chi phí mất năng suất lao động do ung thư cổ tử cung gây ra, người ta ước tính rằng có 130.377 phụ nữ sẽ vẫn còn có thể được sống đến năm 2000 nếu không chết vì ung thư cổ tử cung. Trong số những phụ nữ này, 75% đã chết trước tuổi 60 và 25% chết trước tuổi 40. Nếu 29% những phụ nữ này dự kiến sẽ ​​làm việc trong năm 2000, thì thiệt hại năng suất do tử vong do ung thư cổ tử cung ước tính khoảng 1,3 tỷ USD trong năm đó.